Người Hán

Nhóm sắc tộc đa số thuộc Trung Quốc

Người Hán (giản thể: 汉人; phồn thể: 漢人; bính âm: hànrén, Hán Việt: Hán nhân; giản thể: 汉族; phồn thể: 漢族; bính âm: hànzú, Hán Việt: Hán tộc) còn gọi là người Hoa, người Tàu là một nhóm dân tộcquốc gia Đông Á, có nguồn gốc lịch sử ở khu vực lưu vực sông Hoàng Hà của Trung Quốc hiện đại.[2][3][4][5][6] Họ tạo thành nhóm dân tộc lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 18% dân số toàn cầu và bao gồm nhiều nhóm nhỏ khác nhau nói các loại ngôn ngữ Trung Quốc đặc biệt.[7][8] Ước tính 1,4 tỷ người Hán trên toàn thế giới hầu hết tập trung ở Trung Quốc đại lục, nơi họ chiếm khoảng 92% tổng dân số. Ở Đài Loan, họ chiếm khoảng 97% dân số.[9][10] Người gốc Hán cũng chiếm khoảng 75% tổng dân số Singapore.[11]

Hán nhân (汉人)
Hán tộc (汉族)
Tổng số dân
1,3 tỷ
(ước tính bao gồm Hoa kiều hải ngoại)
Khu vực có số dân đáng kể
Trung Quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa1.207.541.842
 Hồng Kông6.593.410
 Ma Cao433.641
 Trung Hoa Dân Quốc22.575.365
 Singapore2.684.936
 Đảo Giáng Sinh, Úc1.045
 Indonesia7.566.200
 Thái Lan7.053.240
 Malaysia6.590.500[1]
 Hoa Kỳ3.376.031
 Canada1.612.173
 Peru1.300.000
 Việt Nam1.263.570
 Philippines1.146.250
 Myanmar1.101.314
 Nga998.000
 Úc614.694
 Nhật Bản519.561
 Campuchia343.855
 Anh Quốc296.623
 Pháp230.515
 Ấn Độ189.470
 Lào185.765
 Brasil151.649
 Hà Lan144.928
 Hàn Quốc137.790
 New Zealand110.000
 Panamaover 100.000
 Ireland11.218
Ngôn ngữ
Tiếng Trung Quốc
Tôn giáo
Đại đa số theo Phật giáo Đại thừa, Đạo giáo. Số ít theo Thiên Chúa giáo, Hồi giáo và các tôn giáo mới. Chịu ảnh hưởng văn hóa của Nho giáocác tôn giáo dân gian cổ

Người Hán có tổ tiên chung là người Hoa Hạ, xuất phát tên gọi của liên minh ban đầu của các bộ lạc nông nghiệp sống dọc theo sông Hoàng Hà.[12][13] Thuật ngữ Hoa Hạ đại diện cho liên minh thời đại đồ đá mới của các bộ lạc nông nghiệp, những người định cư dọc theo đồng bằng trung tâm xung quanh giữa và hạ lưu sông Hoàng Hà ở phía bắc Trung Quốc.[13][14][15][16] Các bộ lạc này là tổ tiên của người Hán hiện đại đã khai sinh ra nền văn minh Trung Quốc. Ngoài ra, thuật ngữ Hoa Hạ được sử dụng riêng biệt để đại diện cho một nhóm dân tộc 'văn minh' trái ngược với những người được coi là người man di 'mọi rợ' xung quanh họ.[15][17][18]

Người Hán liên kết cùng với một lịch sử chung sống trên một lãnh thổ của tổ tiên cổ xưa trong hơn bốn ngàn năm, bắt nguồn sâu xa với nhiều truyền thống văn hóa và phong tục khác nhau.[19] Các bộ lạc Hoa Hạ ở miền bắc Trung Quốc đã trải qua một sự mở rộng liên tục xuống miền Nam Trung Quốc trong hai thiên niên kỷ qua.[20][21] Văn hóa Hoa Hạ lan rộng về phía nam từ vùng trung tâm của nó trong lưu vực sông Hoàng Hà, tiếp thu nhiều nhóm dân tộc không phải người Trung Quốc đã dần bị Hán hóa trong nhiều thế kỷ tại các điểm khác nhau trong lịch sử Trung Quốc.[15][21][22]

Nhà Hán được coi là một trong những triều đại vĩ đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, vì nó khiến Trung Quốc trở thành cường quốc khu vực Đông Á và tăng cường phần lớn ảnh hưởng của nó đối với các nước láng giềng trong khi cạnh tranh với Đế quốc La Mã về dân số và địa lý.[23][24][25] Uy tín và sự nổi bật của nhà Hán đã ảnh hưởng đến nhiều người Hoa Hạ cổ đại bắt đầu tự nhận mình là "Dân tộc Hán".[17][26][27][28][29] Cho đến ngày nay, người Hán đã lấy tên dân tộc của họ từ triều đại này và chữ viết của Trung Quốc được gọi là "chữ Hán".[23][30][28]

Thuật ngữ và từ nguyênSửa đổi

 
Bản đồ các nhóm ngôn ngữ dân tộc ở Trung Hoa (người Hán được bôi màu nâu gỗ)

Tên gọi "Hán" này xuất phát từ nhà Hán vốn để chỉ tộc người Hoa Hạ sống ở khu vực lục địa nguyên thủy nhưng khiêm tốn từ ở phía bắc sông Trường Giang cho đến vùng nam Nội Mông mà ngày nay là dân tộc đa số và bản địa của Trung Quốc, một triều đại kế tiếp của nhà Tần tồn tại trong thời gian ngắn và đã thống nhất Trung Quốc. Chính trong thời kỳ nhà Tần và nhà Hán thì các bộ lạc của Trung Hoa đã bắt đầu cảm thấy rằng họ thuộc về cùng một nhóm dân tộc, so sánh với các dân tộc khác xung quanh họ. Ngoài ra, nhà Hán đã được xem là đỉnh điểm của nền văn minh Trung Hoa, có khả năng mở rộng sức mạnh và ảnh hưởng đến Trung ÁĐông Bắc Á và có thể so sánh ngang hàng với Đế quốc La Mã về dân số và lãnh thổ.

Trong một số người Hán ở phương Nam, một thuật ngữ khác tồn tại trong nhiều ngôn ngữ khác nhau như tiếng Quảng Đôngtiếng Hẹtiếng Mân Nam, thì thuật ngữ "Đường nhân" (Tángrén 唐人, có nghĩa là "người Đường"), tiếng Việt trước đây ở Nam bộ gọi người gốc Hoa là "Thoòng". Thuật ngữ này xuất phát từ một triều đại khác của Trung Quốc là nhà Đường vốn xem là một đỉnh cao văn minh khác của nền văn minh Trung Hoa. Thuật ngữ này vẫn còn tồn tại trong một số tên gọi mà người Hán dùng để đặt cho phố Tàu: 唐人街 (Tángrénjiē), có nghĩa "Phố của người Đường".

Một thuật ngữ khác thường được dùng bởi Hoa kiều hải ngoại là "Hoa nhân" (giản thể: 华人; phồn thể: 華人; bính âm: huárén), xuất phát từ "Trung Hoa" (giản thể: 中华; phồn thể: 中華; bính âm: zhōnghuá), một tên chữ của Trung Quốc. Thuật ngữ Hán thì thường được người Hán ở Trung Quốc đại lục, Đài Loan và người gốc Hán ở nước ngoài sử dụng để chỉ những gì thuộc về văn hóa và dân tộc của mình.

Phân bốSửa đổi

Trung Quốc đại lụcSửa đổi

1.2 tỷ người Hán sống ở nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, chiếm 92% tống dân số. Tại nước này, người Hán cũng là dân tộc chiếm đa số tại các tỉnh, khu tự trị, ngoại trừ tại khu tự trị Tân Cương (chỉ 41% năm 2000) và Tây Tạng (6% năm 2000) 95% dân Hồng Kông là người hán, 96% tại Ma Cao.

Đài LoanSửa đổi

22 triệu người Hán tại Đài Loan. Người Hán bắt đầu di cư ra Đài Loan từ thế kỷ 17.

Lúc đầu, các di dân này chọn sống tại các vùng vốn đã có người cùng quê. Di dân gốc Hán Mân Việt Phúc Kiến vốn từ ở Quảng Châu định cư tại vùng ven biển, trong khi di dân từ Chương Châu thì sống vùng đồng bằng sâu trong lòng đảo, người Hán Khách Gia thì định cư ở vùng đồi núi. Mâu thuẫn tranh giành của những nhóm người này xung quanh sở hữu đất, nước và khác biệt về văn hóa dẫn tới việc tái định cư một số cộng đồng, và theo thời gian hôn phối và đồng hóa diễn ra. Nghiên cứu gần đây chỉ ra dân Đài Loan đa số có dòng máu pha trộn người Hán và người bản địa.

Hải ngoạiSửa đổi

Có khoảng 40 triệu Hoa kiều khắp nơi trên thế giới. Trong đó gần 30 triệu sống tại Đông Nam Á. Tỷ lệ Người Hán trên dân số như sau: Singapore 74%. Đảo Giáng Sinh,Úc 70%. Malaysia (25%), Thái Lan (14%), Indonesia, và Philippines. Có 3 triệu người gốc Trung Quốc sống tại Hoa Kỳ, chiếm 1% dân số, hơn 1 triệu tại Canada (3,7%), 1.3 triệu tại Peru (4,3%), hơn 600.000 tại Úc (3,5%), gần 150.000 tại New Zealand (3,7%) và khoảng 750.000 tại châu Phi.

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ U.S. Relations With Malaysia
  2. ^ Siska, Veronika; Jones, Eppie Ruth; Jeon, Sungwon; Bhak, Youngjune; Kim, Hak-Min; Cho, Yun Sung; Kim, Hyunho; Lee, Kyusang; Veselovskaya, Elizaveta (ngày 1 tháng 2 năm 2017). “Genome-wide data from two early Neolithic East Asian individuals dating to 7700 years ago”. Science Advances 3 (2): e1601877. Bibcode:2017SciA....3E1877S. PMC 5287702. PMID 28164156. doi:10.1126/sciadv.1601877. 
  3. ^ Ang, Khai C.; Ngu Mee S.; Reid P. Katherine; Teh S. Meh; Aida, Zamzuraida; Koh X.R. Danny; Berg, Arthur; Oppenheimer, Stephen; Salleh, Hood (2012). “Skin Color Variation in Orang Asli Tribes of Peninsular Malaysia”. PLoS ONE 7 (8): 2. Bibcode:2012PLoSO...742752A. PMC 3418284. PMID 22912732. doi:10.1371/journal.pone.0042752. 
  4. ^ Wang, Yuchen; Lu Dongsheng; Chung Yeun-Jun; Xu Shuhua (2018). “Genetic structure, divergence and admixture of Han Chinese, Japanese and Korean populations”. Hereditas 155: 19. PMC 5889524. PMID 29636655. doi:10.1186/s41065-018-0057-5. 
  5. ^ Chiang, Charleston W. K.; Mangul, Serghei; Robles, Christopher R.; Kretzschmar, Warren W.; Cai, Na; Kendler, Kenneth S.; Sankararam, Sriram; Flint, Jonathan (ngày 13 tháng 7 năm 2017). “A comprehensive map of genetic variation in the world's largest ethnic group - Han Chinese”. bioRxiv: 162982. doi:10.1101/162982. 
  6. ^ Wang, Yuchen; Lu, Dongsheng; Chung, Yeun-Jun; Xu, Shuhua (2018). “Genetic structure, divergence and admixture of Han Chinese, Japanese and Korean populations”. Hereditas (ngày 6 tháng 4 năm 2018) 155: 19. PMC 5889524. PMID 29636655. doi:10.1186/s41065-018-0057-5. 
  7. ^ Zhang, Feng; Su, Bing; Zhang, Ya-ping; Jin, Li (ngày 22 tháng 2 năm 2007). “Genetic Studies of Human Diversity in East Asia”. Philosophical Transactions of the Royal Society B: Biological Sciences 362 (1482): 987–996. PMC 2435565. PMID 17317646. doi:10.1098/rstb.2007.2028. 
  8. ^ Zhao, Yong-Bin; Zhang, Ye; Zhang, Quan-Chao; Li, Hong-Jie; Cui, Ying-Qiu; Xu, Zhi; Jin, Li; Zhou, Hui; Zhu, Hong (2015). “Ancient DNA Reveals That the Genetic Structure of the Northern Han Chinese Was Shaped Prior to three-thousand Years Ago”. PLoS ONE 10 (5): e0125676. Bibcode:2015PLoSO..1025676Z. PMC 4418768. PMID 25938511. doi:10.1371/journal.pone.0125676. 
  9. ^ 中華民國國情簡介 [ROC Vital Information]. Executive Yuan (bằng tiếng zh-TW). 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2016. 臺灣住民以漢人為最大族群,約占總人口97% 
  10. ^ Executive Yuan, R.O.C. (2014). The Republic of China Yearbook 2014 (PDF). tr. 36. ISBN 978-986-04-2302-0. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2016. 
  11. ^ “Home” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2016. 
  12. ^ Minahan, James B. (2015). Ethnic Groups of North, East, and Central Asia: An Encyclopedia. ABC-CLIO. tr. 89–90. ISBN 978-1-61069-017-1. 
  13. ^ a ă Schliesinger, Joachim (2016). Origin of Man in Southeast Asia 2: Early Dominant Peoples of the Mainland Region. Booksmango. tr. 13–14. 
  14. ^ Liu, Hong (2017). Chinese Business: Landscapes and Strategies. Routledge. tr. 34. ISBN 978-1-138-91825-2. 
  15. ^ a ă â Wilkinson, Endymion Porter (2015). Chinese History: A New Manual. Harvard University Asia Center. tr. 709. ISBN 978-0-674-08846-7. 
  16. ^ Yuan, Haiwang (2006). The Magic Lotus Lantern and Other Tales from the Han Chinese. Libraries Unlimited. tr. 6. ISBN 978-1-59158-294-6. 
  17. ^ a ă Perkins, Dorothy (1998). Encyclopedia of China: History and Culture. Checkmark Books. tr. 202. ISBN 978-0-8160-2693-7. 
  18. ^ Schliesinger, Joachim (2016). Origin of Man in Southeast Asia 2: Early Dominant Peoples of the Mainland Region. Booksmango. tr. 14. 
  19. ^ Kowner, Rotem; Demel, Walter (2012). Race and Racism in Modern East Asia: Western and Eastern Constructions. Brill Academic. tr. 351–52. ISBN 978-90-04-23729-2. 
  20. ^ Schliesinger, Joachim (2016). Origin of Man in Southeast Asia 2: Early Dominant Peoples of the Mainland Region. Booksmango. tr. 10–17. 
  21. ^ a ă Dingming, Wu (2014). A Panoramic View of Chinese Culture. Simon & Schuster. 
  22. ^ Minahan, James B. (2015). Ethnic Groups of North, East, and Central Asia: An Encyclopedia. ABC-CLIO. tr. 91. ISBN 978-1-61069-017-1. 
  23. ^ a ă Minahan, James B. (2015). Ethnic Groups of North, East, and Central Asia: An Encyclopedia. ABC-CLIO. tr. 92. ISBN 978-1-61069-017-1. 
  24. ^ Walker, Hugh Dyson (2012). East Asia: A New History. AuthorHouse. tr. 119. 
  25. ^ Kang, David C. (2012). East Asia Before the West: Five Centuries of Trade and Tribute. Columbia University Press. tr. 33–34. ISBN 978-0-231-15319-5. 
  26. ^ Tanner, Harold Miles (2010). China: a History: From the Great Qing Empire through the People's Republic of China, 1644–2009. Hackett Pub Co. tr. 83. ISBN 978-1-60384-204-4. 
  27. ^ Ueda, Reed (2017). America's Changing Neighborhoods: An Exploration of Diversity through Places. Greenwood. tr. 403. ISBN 978-1-4408-2864-5. 
  28. ^ a ă Eno, R. The Han Dynasty (206 B.C. – A.D. 220) (PDF). Indiana University Press. tr. 1. 
  29. ^ Li, Xiaobing (2012). China at War: An Encyclopedia: An Encyclopedia. Pentagon Press (xuất bản ngày 30 tháng 6 năm 2012). tr. 155. ISBN 978-81-8274-611-4. 
  30. ^ Schaefer (2008).

Liên kết ngoàiSửa đổi