BV Borussia Dortmund là một câu lạc bộ thể thao đóng ở Dortmund, phía bắc sông Rhine và được biết đến là một trong những đội bóng nổi tiếng và thành công nhất nước Đức cùng với Bayern Munich, Hamburg SVBorussia Mönchengladbach. Với 8 chiếc cúp vô địch quốc gia Đức và 5 cúp DFB Pokal, Dortmund cũng vô địch UEFA Cup Winners' Cup vào năm 1966 (trở thành đội bóng Đức đầu tiên giành danh hiệu tầm châu lục) và giành chức vô địch UEFA Champions League vào năm 1997.

Borussia Dortmund
Borussia Dortmund logo.svg
Tên đầy đủBallspielverein Borussia 09 e.V. Dortmund
Biệt danhDie Borussen (Những người Phổ)
Die Schwarzgelben (Vàng-Đen)
Der BVB (Những BVB)
Tên ngắn gọnBVB
Thành lập19 tháng 12 năm 1909; 113 năm trước (1909-12-19)
SânSignal Iduna Park
Sức chứa81.365[1]
Chủ sở hữuReinhard Rauball
Chủ tịch điều hànhHans-Joachim Watzke (CEO)
Huấn luyện viênEdin Terzić
Giải đấuBundesliga
Thứ hạng

sau khi kết thúc

mùa bóng 2021/22
Thứ 2
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Màu áo Giải cúp / châu Âu
Mùa giải hiện nay

Biệt danh của câu lạc bộ: Schwarzgelben (Vàng-đen) hay Die Borussen (những người Phổ).

Borussia Dortmund là một trong những câu lạc bộ giàu thành tích và có bề dày truyền thống bậc nhất của nước Đức. Tuy vậy, phải đến thập kỉ 90 đội bóng này mới gây được tiếng vang lớn đối với người hâm mộ trên toàn thế giới dưới cái bóng quá lớn của Hamburg SVBorussia Mönchengladbach, đặc biệt là FC Bayern München.

Đối thủ truyền kiếp của Dortmund là FC Schalke 04, là Revierderby (Derby vùng Ruhr). Ngoài ra còn có Borussia Mönchengladbach được gọi là Borussen derby (Derby nước Phổ).

Dortmund hiện tại là câu lạc bộ lớn thứ 3 tại Đức (sau Bayern München và Schalke 04) với 145.000 thành viên chính thức và thứ 11 thế giới.

Lịch sử

Được thành lập vào năm 1909, Dortmund không đạt được danh hiệu nào đáng kể cho đến những năm 1950, khi họ giành chiến thắng hai lần liên tiếp tại Giải Bundesliga vào năm 1956 và 1957. Từ đó Dortmund đã dần trở thành một đội bóng có tên tuổi trong làng bóng đá Đức, Mùa bóng 1962/63 vô địch Bundesliga sau đó Dortmund đoạt chức vô địch Winners Cup năm 1966 khi đánh bại Liverpool F.C. trong trận chung kết, đó là danh hiệu Châu Âu đầu tiên của CLB. Tuy nhiên phải sau những năm 1990,Schwarzgelben mới thực sự phát triển và trở thành một trong những CLB hùng mạnh cả trong nền bóng đá Đức và cả của Châu Âu, khi trước đó phải đứng dưới cái bóng quá lớn của Bayern Munich, Hamburg và đặc biệt là Borussia Mönchengladbach[2], đội bóng cùng khu vực Nordrhein-Westfalen.

Sau hai lần liên tiếp đoạt chức vô địch giải quốc gia Đức vào năm 1995 và 1996, Bằng chiến thắng trước Juventus 3-1 tại Olympic Stadium, Borussia Dortmund đã đoạt được vương miện cao quý nhất của bóng đá châu Âu với danh hiệu UEFA Champions League mùa bóng 96/97. Sau đó để bổ sung thêm vào bảng vàng thành tích của mình, BVB còn tiếp tục đoạt nốt danh hiệu Vô địch Cup Liên Lục địa tổ chức tại Tokyo. Người kiến tạo nên những thành công đó cho BVB trong thập niên 90 là huấn luyện viên huyền thoại của CLB Ottmar Hitzfeld.

Trong tất cả các quá trình phát triển của mình Dortmund được biết đến như là một câu lạc bộ có lối chơi mang đậm phong cách Đức, phần lớn các cầu thủ của Dortmund thường là những người thợ đá bóng hơn là những cầu thủ mang đậm tính chất kỹ thuật, tất nhiên cũng có một số ngoại lệ, Andreas Möller, một trong những kỹ thuật gia của Dortmund và cả đội tuyển Đức trong những năm 90, và libero Matthias Sammer có lẽ là cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển của câu lạc bộ. Vào đùng thời kỳ đỉnh cao của mình, BVB cũng có những đóng góp to lớn cho chiến thắng của đội tuyển quốc gia tại Euro 1996 với sự góp mặt của những ngôi sao Andy Möller, Matthias Sammer, Stefan Reuter,...

Mùa bóng 1998-99, Dortmund có những kết quả tồi tệ dưới thời của huấn luyện viên Michael Skibbe, họ đã không lọt vào vòng đấu bảng UEFA Champions League, một số hợp đồng mới không đạt kết quả như ý. Chính vì vậy mà Skibbe bị sa thải, qua một vài sự thử nghiệm ngắn ngủi một số huấn luyện viên không đạt yêu cầu, và chỉ đến khi huyền thoại câu lạc bộ Matthias Sammer đứng lên nhận nhiệm vụ lãnh đạo câu lạc bộ trong thời điểm khó khăn. Và như có một phép mầu của chàng trai tóc hung này, người mà huấn luyện viên đội bóng có nhiều cầu thủ già hơn chính mình, đã đưa con thuyền "vàng đen" trở về đúng con đường mà các cổ động viên mong đợi, ngay mùa bóng đầu tiên lãnh đạo BVB đoạt chức vô địch Bundesliga vào chung kết UEFA Cup. Matthias Sammer cũng là huấn luyện viên rất thành công trong việc tạo điều kiện cho nhân tài Đức phát triển: Christoph Metzelder, Sebastian Kehl, Torsten Frings, Lars Ricken....

Huy hiệu

Cơ sở hạ tầng

Sân vận động

 
Signal Iduna Park là sân vận động lớn nhất ở Đức.

Westfalenstadion là sân nhà của Borussia Dortmund, sân vận động lớn nhất của Đức và lớn thứ bảy ở châu Âu. Sân vận động có tên chính thức là "Signal Iduna Park" sau khi công ty bảo hiểm Signal Iduna mua quyền đặt tên sân vận động cho đến năm 2021. Tuy nhiên, tên này không thể được sử dụng khi tổ chức các sự kiện của FIFA và UEFA, vì các cơ quan quản lý này có chính sách cấm tập đoàn tài trợ cho các công ty không phải là đối tác chính thức của giải đấu. Trong World Cup 2006, sân vận động được gọi là "Sân vận động FIFA World Cup, Dortmund", trong khi trong các trận đấu của các câu lạc bộ UEFA, nó được gọi là "BVB Stadion Dortmund". Sân vận động hiện có sức chứa lên đến 81.359 khán giả (đứng và ngồi) cho các trận đấu giải VĐQG và 65.829 khán giả ngồi cho các trận đấu quốc tế.  Đối với những điều này, khán đài phía nam đặc trưng được trang bị lại ghế để phù hợp với các quy định của FIFA.

 
Borusseum, bảo tàng về Borussia Dortmund.

Năm 1974, Westfalenstadion thay thế sân Stadion Rote Erde, nằm bên cạnh và bây giờ là sân vận động của Borussia Dortmund II. Sau khi Borussia Dortmund ngày càng nổi tiếng trong những năm 1960, rõ ràng mặt bằng truyền thống là quá nhỏ đối với số lượng cổ động viên ngày càng tăng của Borussia Dortmund. Tuy nhiên, thành phố Dortmund không thể tài trợ cho một sân vận động mới và các tổ chức liên bang không sẵn lòng giúp đỡ. Nhưng vào năm 1971, Dortmund được chọn để thay thế thành phố Cologne , thành phố buộc phải rút lại kế hoạch tổ chức các trận đấu tại World Cup 1974. Các quỹ ban đầu dành cho sân vận động dự kiến ​​ở Cologne do đó đã được phân bổ lại cho Dortmund, và một sân vận động mới đã trở thành hiện thực.

Westfalenstadion đã trải qua nhiều lần cải tạo trong suốt nhiều năm để tăng kích thước của sân vận động, bao gồm cả việc mở rộng sân vận động cho World Cup 2006. Vào năm 2008, Borusseum, một bảo tàng về Borussia Dortmund, được khai trương tại sân vận động. Năm 2011, Borussia Dortmund đồng ý hợp tác với Q-Cells. Công ty đã lắp đặt 8.768 pin mặt trời trên mái nhà của Westfalenstadion để tạo ra 860.000  kWh mỗi năm.

Borussia Dortmund có tỷ lệ dự khán trung bình cao nhất so với bất kỳ câu lạc bộ bóng đá nào trên toàn thế giới. Vào năm 2014, người ta ước tính rằng mỗi trận đấu trên sân nhà của câu lạc bộ có khoảng 1.000 khán giả Anh tham dự, bị thu hút bởi giá vé thấp so với Premier League.

Sân tập

Sân tập của Borussia Dortmund và cơ sở Học viện Hohenbuschei nằm ở Brackel, một quận của Dortmund.  Bên trong khu phức hợp này có các khu tập luyện thể dục thể thao và phục hồi chức năng người máy , các phòng vật lý trị liệu và massage, cùng các bể chữa bệnh và thủy liệu pháp . Ngoài ra còn có phòng xông hơi khô , phòng xông hơi ướt và phòng tập tạ, phòng học, hội trường , phòng làm việc cho văn phòng phía trước BVB , nhà hàng, studio truyền hình phỏng vấn .các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp và ban huấn luyện của BVB cho tổng số BVB!, kênh thuộc sở hữu của câu lạc bộ. Trong khuôn viên có năm sân cỏ , hai trong số đó có hệ thống sưởi dưới đất, một sân cỏ nhân tạo, ba sân cỏ nhỏ và một nhà thi đấu thể thao đa chức năng. Địa điểm này có tổng diện tích là 18.000 m 2 (190.000 sq ft). Ngoài ra, câu lạc bộ còn sở hữu Footbonaut, một robot huấn luyện có hiệu quả là 14 m² (150 sq ft) lồng huấn luyện.

Khu phức hợp đào tạo và trung tâm biểu diễn trẻ, đặt tại Hohenbuschei, sẽ được mở rộng theo từng giai đoạn cho đến năm 2021. Ngoài ra, Văn phòng Kinh doanh Thể thao sẽ được xây dựng lại hoàn toàn từ đầu. Việc xây dựng theo kế hoạch có chi phí lên tới 20 triệu euro sẽ đưa BVB trở thành câu lạc bộ bóng đá được trang bị tốt nhất cả nước về cơ sở hạ tầng.

Trong Trung tâm Đào tạo Strobelallee, Học viện Bóng đá BVB Evonik có một địa điểm đào tạo nổi bật dành riêng cho học viên. Trong số những người khác, đội Bundesliga từng chuẩn bị cho các trận đấu của họ trên sân tập cũ của câu lạc bộ.

Trang phục và nhà tài trợ

Đối tác quảng cáo chính và nhà tài trợ áo đấu hiện tại của Dortmund là Evonik. Công ty bảo hiểm Signal Iduna đã mua quyền đặt tên cho Westfalenstadion Signal Iduna Park cho đến năm 2021. Nhà cung cấp trang phục chính thức là Puma kể từ mùa giải 2012–13. Hợp đồng có thời hạn đến năm 2025. Câu lạc bộ đã thông báo thỏa thuận với Opel để trở thành nhà tài trợ tay áo đầu tiên từ mùa giải 2017–18.

Ngoài ra, có ba cấp độ đối tác khác nhau: BVBChaosystemPartner bao gồm Opel, bwin, Brinkhoff's, Wilo, Hankook và EA Sports; BVBPartner bao gồm MAN, Eurowings, Coca-Cola, Ruhr Nachrichten, REWE và Aral; và BVBProduktPartner bao gồm trong số những người khác củao , Westfalenhallen và TEDi .

Kể từ năm 2012, Brixental ở Kitzbühel Alps ở Áo cũng là nhà tài trợ BVB; hơn nữa, khu vực là nơi tổ chức một trong những trại huấn luyện mùa hè hàng năm.

Nhà tài trợ

Danh hiệu

Quốc nội

Châu Âu

Quốc tế

Đội trẻ

Cầu thủ

Đội hình hiện tại

    Tính đến 31 tháng 1 năm 2022[13]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
1TM Gregor Kobel
2HV Mateu Morey
4HV Nico Schlotterbeck
6TV Salih Özcan
7TV Giovanni Reyna
8TV Mahmoud Dahoud
9 Sébastien Haller
10TV Thorgan Hazard
11 Marco Reus (đội trưởng)
13HV Raphaël Guerreiro
14HV Nico Schulz
15HV Mats Hummels
17TV Marius Wolf
18 Youssoufa Moukoko
19TV Julian Brandt
SốVT Quốc giaCầu thủ
20 Anthony Modeste
21 Donyell Malen
22TV Jude Bellingham
23TV Emre Can
24TV Thomas Meunier
25HV Niklas Süle
27 Karim Adeyemi
30TV Felix Passlack
32TV Abdoulaye Kamara
33TM Alexander Meyer
35TM Marcel Lotka
36TV Tom Rothe
38TM Luca Unbehaun
42TV Göktan Gürpüz
43 Jamie Bynoe-Gittens
44HV Soumaila Coulibaly

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

SốVT Quốc giaCầu thủ
TV Ansgar Knauff (tại Eintracht Frankfurt)

Đội dự bị và học viện

Đội trưởng câu lạc bộ

 
Đội trưởng Marco Reus
Giai đoạn[14]TênGhi chú
1963–1965  Alfred SchmidtĐội trưởng đầu tiên trong kỷ nguyên Bundesliga
1965–1968  Wolfgang Paul
1968–1971  Sigfried Held
1971–1974  Dieter Kurrat
1974–1977  Klaus Ackermann
1977–1979  Lothar Huber
1979–1983  Manfred Burgsmüller
1983–1985  Rolf Rüssmann
1985–1987  Dirk Hupe
1987–1988  Frank Mill
1988–1998  Michael ZorcĐội trưởng lâu nhất lịch sử Borussia Dortmund
1998–2003  Stefan Reuter
2003–2004  Christoph Metzelder
2004–2008  Christian Wörns
2008–2014  Sebastian Kehl
2014–2016  Mats Hummels
2016–2018  Marcel Schmelzer[15]
2018–  Marco Reus[16]

Nhân viên đội bóng

 
Huấn luyện viên trưởng Marco Rose
 
Trưởng đoàn bóng đá hạng nhất Sebastian Kehl
 
Giám đốc kỹ thuật Edin Terzić
    Tính đến 1 tháng 7 năm 2021
TênVị tríNguồn
Ban huấn luyện
Edin TerzićHead coach[17]
  René MarićAssistant coach[17]
  Alexander ZicklerAssistant coach[17]
  Matthias KleinsteiberGoalkeeping coach[17]
Bộ phận thể thao
  Patrick EibenbergerHuấn luyện viên thể thao[17]
  Mathias Kolodziej[17]
  Florian Wangler[17]
  Johannes Wieber[17]
Bộ phận y tế
  Dr. Markus BraunBác sĩ đội một[18]
  Thomas ZetzmannGiám đốc y tế vật lý trị liệu[17]
  Dennis MorschelHuấn luyện viên phục hồi chức năng[17]
  Swantje Thomßen[17]
  Thorben Voeste[17]
  Olaf Wehmer[17]
  Dr. Philipp LauxNhà tâm lý học thể thao[17]
Hướng đạo & tuyển trạch
  Kai-Norman SchulzĐiều phối viên công nghệ thể thao[19]
  Serdar AyarNhà phân tích video[20]
  Markus PilawaTrinh sát trưởng[21]
  Benjamin FrankHướng đạo sinh[22]
  Sebastian Frank[22]
  Jan Heidermann[22]
  Artur Płatek[23]
  Waldemar Wrobel[24]
Tổ chức & quản lý
  Michael ZorcGiám đốc bóng đá[25]
  Sebastian KehlTrưởng đoàn bóng đá đội một[26]
  Edin TerzićGiám đốc kỹ thuật[27]
  Ingo PreußTrưởng đoàn bóng đá dự bị[28]
  Wolfgang SpringerTrưởng ban thanh niên[29]
  Lars RickenĐiều phối viên đội trẻ[30]
  Matthias SammerCố vấn bên ngoài[31]
  Suresh LetchmananGiám đốc BVB Asia Pacific Pte. Ltd.[32]
  Benjamin WahlTrưởng BVB Trung Quốc[33]
  Patrick OwomoyelaĐại sứ quốc tế[34]
  Karl-Heinz Riedle[35]
  Roman Weidenfeller[36]
  Norbert DickelPhát thanh viên sân vận động[37]
  Teddy de BeerQuản lý quan hệ người hâm mộ[38]
  Sigfried Held[39]
  Frank GräfenQuản lý bộ dụng cụ[17]

Các huấn luyện viên

Vào tháng 7 năm 1935, Fritz Thelen trở thành huấn luyện viên trưởng toàn thời gian đầu tiên của câu lạc bộ, nhưng không có mặt trong những tháng đầu tiên của mùa giải, buộc cầu thủ Dortmund và tuyển thủ Đức Ernst Kuzorra lên thay. Năm 1966, Willi Multhaup dẫn dắt đội bóng của mình đến với Cúp các nhà vô địch Cúp C1 châu Âu, đội tuyển Đức đầu tiên giành được cúp châu Âu. Horst Köppel là huấn luyện viên mang về chiếc cúp bạc lớn cho câu lạc bộ lần đầu tiên sau hơn 20 năm, vô địch DFB-Pokal năm 1989.

Ottmar Hitzfeld, huấn luyện viên thành công nhất của câu lạc bộ, đã hai lần vô địch Bundesliga và Siêu cúp. Năm 1997, Dortmund đã chờ đợi thành công cấp châu lục trong hơn 30 năm; Hitzfeld đăng quang thời kỳ của mình với một chiến thắng bất ngờ và giành chức vô địch Champions League. Dortmund đã giành được Cúp Liên lục địa vào năm 1997 và huấn luyện viên trưởng Nevio Scala trở thành người đầu tiên và cho đến nay là người không phải là người bản xứ duy nhất giành được một danh hiệu lớn. Vào năm 2001–02 , Matthias Sammer, một cựu cầu thủ của BVB, đã mang về chức vô địch giải đấu cho Dortmund. Trong năm 2008–09, câu lạc bộ tiếp cận huấn luyện viên trưởng Mainz 05 Jürgen Klopp. Ông đã giành được danh hiệu vô địch thứ bảy của câu lạc bộ trong năm 2010–11. Trong mùa giải thứ tư của mình, Dortmund đã vô địch Bundesliga và DFB-Pokal để hoàn thành cú đúp danh hiệu và cúp vô địch đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ. Người kế vị Thomas Tuchel đã vô địch DFB-Pokal 2016–17.

Vào ngày 22 tháng 5 năm 2018, Lucien Favre được xác nhận là huấn luyện viên trưởng mới của câu lạc bộ cho mùa giải 2018–19. Ông giành được DFL-Supercup 2019 vào ngày 3 tháng 8 năm 2019.

Vào ngày 12 tháng 12 năm 2020, Dortmund thất bại 5–1 trước VfB Stuttgart. Favre bị sa thải vào ngày hôm sau.

#Quốc tịchHuấn luyện viên trưởngTừĐếnGhi chú
1 Ernst Kuzorra*July 1935Aug 1935Caretaker
2 Fritz ThelenSept 1935June 1936
3 Ferdinand SwatoschJuly 1936May 1939
4 Willi SevcikJune 1939unknown
5 Fritz Thelen10 January 194631 July 1946
6 Ferdinand Fabra1 August 194631 July 19481 Oberliga West
7 Eduard Havlicek1 August 194831 July 19502 Oberliga West
8 Hans-Josef Kretschmann1 August 195031 July 1951
9 Hans Schmidt1 August 195131 July 19551 Oberliga West
10 Helmut Schneider1 August 195531 July 19572 Oberliga West, 2 Championships
11 Hans Tauchert1 August 195724 June 1958
12 Max Merkel14 July 195831 July 1961
13 Hermann Eppenhoff1 August 196130 June 19651 Championship, 1 Cup
14 Willi Multhaup1 July 196530 June 19661 European Cup Winners' Cup
15 Heinz Murach1 July 196610 April 1968
16 Oswald Pfau18 April 196816 December 1968
17 Helmut Schneider17 December 196817 March 1969
18 Hermann Lindemann21 March 196930 June 1970
19 Horst Witzler1 July 197021 December 1971
20 Herbert Burdenski3 January 197230 June 1972
21 Detlev Brüggemann1 July 197231 October 1972
22 Max Michallek1 November 19721 March 1973
23 Dieter Kurrat1 March 197330 June 1973
24 János Bédl1 July 197314 February 1974
25 Dieter Kurrat14 February 197430 June 1974
26 Otto Knefler1 July 19741 February 1976
27 Horst Buhtz1 February 197630 June 1976
28 Otto Rehhagel1 July 197630 April 1978
29 Carl-Heinz Rühl1 July 197829 April 1979
30 Uli Maslo30 April 197930 June 1979
31 Udo Lattek1 July 197910 May 1981
32 Rolf Bock*11 May 198130 June 1981Caretaker
33 Branko Zebec1 July 198130 June 1982
34 Karl-Heinz Feldkamp1 July 19825 April 1983
35 Helmut Witte*6 April 198330 June 1983Caretaker
36 Uli Maslo1 July 198323 October 1983
37 Helmut Witte*23 October 198331 October 1983Caretaker
38 Heinz-Dieter Tippenhauer31 October 198315 November 1983
39 Horst Franz16 November 198330 June 1984
40 Timo Konietzka1 July 198424 October 1984
41 Reinhard Saftig*25 October 198427 October 1984Caretaker
42 Erich Ribbeck28 October 198430 June 1985
43 Pál Csernai1 July 198520 April 1986
44 Reinhard Saftig21 April 198630 June 1988
45 Horst Köppel1 July 198830 June 19911 Cup, 1 Supercup
46 Ottmar Hitzfeld1 July 199130 June 19972 Championships, 2 Supercups, 1 Champions League
47 Nevio Scala1 July 199730 June 19981 Intercontinental Cup
48 Michael Skibbe1 July 19984 February 2000
49 Bernd Krauss6 February 200013 April 2000
50 Udo Lattek*14 April 200030 June 2000Caretaker
51 Matthias Sammer1 July 200030 June 20041 Championship
52 Bert van Marwijk1 July 200418 December 2006
53 Jürgen Röber19 December 200612 March 2007
54 Thomas Doll13 March 200719 May 2008
55 Jürgen Klopp1 July 200830 June 20152 Championships, 1 Cup, 2 Supercups
56 Thomas Tuchel1 July 201530 May 20171 Cup
57 Peter Bosz1 July 201710 December 2017
58 Peter Stöger10 December 201730 June 2018
59 Lucien Favre1 July 201813 December 20201 Supercup
60 Edin Terzić13 December 202030 June 20211 Cup
61 Marco Rose1 July 2021nay

Chú thích

  1. ^ “Dortmunds Stadionkapazität erhöht sich” (bằng tiếng Đức). Spiegel Online. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2015.
  2. ^ https://www.duhoctrungquoc.vn/wiki/en/Borussia_M%C3%B6nchengladbach_12%E2%80%930_Borussia_Dortmund
  3. ^ a b “Trikotsammlung” (bằng tiếng Đức). schwatzgelb.de. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
  4. ^ Ax, Martin (14 tháng 5 năm 2000). “Borussia Dortmund wird Textilhersteller”. Die Welt (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
  5. ^ “Borussia Dortmund schließt Sponsor- und Ausrüstervertrag mit Nike” (bằng tiếng Đức). Borussia Dortmund. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2003.
  6. ^ “Neuer Ausrüster: Kappa kleidet BVB ein” (bằng tiếng Đức). Westfälischen Rundschau. 26 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009.
  7. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Puma
  8. ^ a b c d e f g h “Trikotsponsoren” (bằng tiếng Đức). schwatzgelb.de. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
  9. ^ “Borussia Dortmund: Die Eisverkäufer”. Süddeutsche Zeitung (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2013.
  10. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên evonik
  11. ^ Dixon, Ed (20 tháng 2 năm 2020). “Borussia Dortmund bring in 1&1 as Bundesliga shirt sponsor”. sportspromedia.com. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2020.
  12. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên sleeve
  13. ^ “First Team”. Borussia Dortmund. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2021.
  14. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên captains
  15. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên schmelzer
  16. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên reus
  17. ^ a b c d e f g h i j k l m n o “First Team”. Borussia Dortmund. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2021.
  18. ^ “Abteilung für Sportmedizin” (bằng tiếng Đức). Klinikum Westfalen. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018.
  19. ^ “BVB holt Videoanalyst Kai-Norman Schulz von Austria Wien”. Westdeutsche Allgemeine Zeitung (bằng tiếng Đức). 22 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2017.
  20. ^ “Das ist der BVB-Kader für die Saison 2017/18”. Halterner Zeitung (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017.
  21. ^ “BVB-Chefscout wechselt zum FC Arsenal”. Der Spiegel (bằng tiếng Đức). 20 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2017.
  22. ^ a b c “BVB holt Klopp-Scout aus Liverpool” (bằng tiếng Đức). Sport1. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2018.
  23. ^ “Artur Płatek, skaut Borussii w długim wywiadzie” (bằng tiếng Ba Lan). Weszło. 21 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2013.
  24. ^ “Ex-RWE-Coach Wrobel geht für den BVB auf Talentsuche” (bằng tiếng Đức). Funke Mediengruppe. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2014.
  25. ^ “Organisation and Management”. Borussia Dortmund. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018.
  26. ^ “Königstransfer am Start: Kehl fängt beim BVB an” (bằng tiếng Đức). Kicker. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2018.
  27. ^ “Rolle rückwärts: Edin Terzic wird Technischer Direktor beim BVB” (bằng tiếng Đức). Ruhrnachrichten. 29 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2021.
  28. ^ “Der neue BVB II-Manager Ingo Preuß über seine Arbeit” (bằng tiếng Đức). Ruhr Nachrichten. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2011.
  29. ^ “Organisation” (bằng tiếng Đức). Borussia Dortmund. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018.
  30. ^ “Lars Ricken Is Borussia's New Youth Coordinator”. Borussia Dortmund. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018.
  31. ^ “Externer Berater: Sammer kehrt zum BVB zurück” (bằng tiếng Đức). Kicker. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2018.
  32. ^ “Suresh Letchmanan to head Singapore office”. Borussia Dortmund. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2014.
  33. ^ “Chinese office – German soccer side increase their presence in Asia with a second outlet”. 5 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2017.
  34. ^ “Patrick Owomoyela returns to the BVB family”. Borussia Dortmund. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2018.
  35. ^ “Riedle takes on international ambassador role for BVB”. Borussia Dortmund. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2014.
  36. ^ “Weidenfellers erste Reise als Markenbotschafter” (bằng tiếng Đức). Borussia Dortmund. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2018.
  37. ^ “Norbert Dickel: Der Held am Mikro” (bằng tiếng Đức). Borussia Dortmund. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2017.
  38. ^ “Fanbeauftragte – Teddy de Beer” (bằng tiếng Đức). Borussia Dortmund. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018.
  39. ^ “Fanbeauftragte – Sigfried Held” (bằng tiếng Đức). Borussia Dortmund. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018.

Liên kết ngoài

This article uses material from the Wikipedia article Borussia Dortmund, which is released under the Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 license ("CC BY-SA 3.0"); additional terms may apply. (view authors). Nội dung được phát hành theo CC BY-SA 3.0, ngoại trừ khi có ghi chú khác. Images, videos and audio are available under their respective licenses.
#Wikipedia® is a registered trademark of the Wikimedia Foundation, Inc. Wiki (duhoctrungquoc.vn) is an independent company and has no affiliation with Wikimedia Foundation.

🔥 Top trends keywords Tiếng Việt Wiki:

Đài Tiếng nói Việt NamTrang ChínhNhà bà NữXì dáchĐài Truyền hình Việt NamNguyễn Xuân PhúcTrần Thị Nguyệt ThuNguyễn Phú TrọngChủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt NamViệt NamBài Tiến lênSigmaTết Nguyên ĐánMười hai con giápBài càoNguyễn Thị BìnhXuân Bắc (diễn viên)Phạm Minh ChínhCung Hoàng ĐạoTô LâmVõ Thị Ánh XuânTrần Ngọc TràHiệp định Paris 1973Chị chị em emLê Đức ThọBảng xếp hạng bóng đá nam FIFAChùa HươngNguyễn Tấn DũngBộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt NamBố già (phim 2021)Phan Văn GiangLisa (rapper)Cristiano RonaldoManchester United F.C.Lionel MessiQuang TrungMikami YuaVõ Văn ThưởngDanh sách phim điện ảnh Việt Nam có doanh thu cao nhấtHồ Chí MinhTrấn ThànhTổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt NamThành phố Hồ Chí MinhBộ Công an (Việt Nam)Hà NộiChợ ViềngFC BarcelonaCúp EFLCleopatra VIIChùa Bái ĐínhTrận Ngọc Hồi – Đống ĐaCàn LongVương Đình HuệNewJeansReal Madrid CFBộ bài TâyThăng Long tứ trấnHoa KỳTrung QuốcCộng hòa Nam PhiHanoi HannahCan ChiĐạo Cao ĐàiFacebookTrần Hưng ĐạoĐền Bà Chúa Kho (Bắc Ninh)Công Lý (diễn viên)Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt NamDanh sách nhân vật trong Thám tử lừng danh ConanMậu binhVũ Đức ĐamDanh sách Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt NamChu Văn BiênĐinh Văn NơiXì tố🡆 More