Anna Faris

Tiếng Việt editions of Wiki, an online encyclopedia

Anna Kay Faris (sinh ngày 29 tháng 11 năm 1976)[1] là một nữ diễn viênca sĩ nổi tiếng người Mỹ. Cô được xem là "Nữ hoàng phim hài lãng mạn Hollywood".

Anna Faris
Anna Faris 2012.jpg
Faris tại Academy Awards lần thứ 84, tháng 2 năm 2012
SinhAnna Kay Faris
29 tháng 11, 1976 (45 tuổi)
Baltimore, Maryland, Hoa Kỳ
Trường lớpUniversity of Washington
Nghề nghiệpDiễn viên, ca sĩ
Năm hoạt động1991–nay
Phối ngẫuBen Indra (cưới 2004–2008)
Chris Pratt (cưới 2009–2018)
Michael Barrett (cưới 2021)
Con cái1

Faris đã tham gia diễn xuất và trở nên nổi tiếng trong loạt phim Scary Movie, The Hot Chick (2002), Lost in Translation (2003) và My Super Ex-Girlfriend (2006).

Trong năm 2008, cô đã có một vai diễn chính trong The House Bunny, nhờ vai diễn này mà cô nhận được 5 đề cử MTV Movie Awards và 2 đề cử Teen Choice Awards. Vai diễn Shelly trong phim được xem là một trong những vai diễn thành công nhất của Anna.

Cô cũng đóng vai chính trong phim What's your number? cùng nam diễn viên Chris Evans. Sau đó là hàng loạt phim như The Ditactor, I Give It A Year và bộ phim đình đám quy tụ dàn sao khủng Movie 43.

Cô cũng là một trong những diễn viên từng xuất hiện trên nhiều trang bìa tạp chí nhất Hollywood bao gồm Raygun, Playboy[2], Seft, Cosmopolitan[3]... Cô từng được các phương tiện truyền thông bình chọn lọt Top những nữ diễn viên gợi cảm và xinh đẹp nhất thế giới các năm 2004, 2009, 2010, 2011 và 2012.[4]

Tiểu sử

Faris đã được sinh ra tại Baltimore, Maryland[5]. Sau đó gia đình cô chuyển đến Edmonds, Washington khi cô được sáu tuổi. Cha của cô là ông Jack, là một nhà xã hội học làm việc tại Đại học Washington[6] và mẹ cô, Karen, là một giáo viên tại Trường Tiểu học Seaview ở Edmonds[6]. Faris có một người anh trai, Robert, người cũng là một nhà xã hội học và là giáo sư tại Đại học California[7].

Cha mẹ cô khuyến khích cô theo đuổi diễn xuất khi cô còn nhỏ[4], và vai diễn chuyên nghiệp đầu tiên của cô là vai Arthur Miller trong vở kich Danger: Memory! tại Nhà hát Kịch nói Seattle khi cô 9 tuổi. Cô tiếp tục tham gia một vài vở kịch khác như "To Kill a Mockingbird, "Our Town". Sau khi tốt nghiệp trung học vào năm 1994, Faris học tại Đại học Washington, tốt nghiệp ngành văn học Anh năm 1999.[8]

Sự nghiệp

Bộ phim đầu tiên của cô sau khi ra trường là phim Lovers Lane năm 1999, vai diễn đột phá trong sự nghiệp của cô là vai diễn Cindy Campbell trong loạt phim hài - kinh dị Scary Movie. Cô cũng xuất hiện trong series phim truyền hình "Friends" trong vai Erica.

Năm 2003, cô tham gia phim Lost in Translation, cô cũng xuất hiện trong phim WaitingJust Friends bên cạnh nam diễn viên Ryan Reynolds. Năm 2006 cô tiếp tục tham gia 2 bộ phim Brokeback Mountain và My Super Ex-Girlfriend. Năm 2007 cô đóng vai chính trong phim Smiley Face, vai diễn giúp cô giành được giải thưởng "Stoner of the Year" của tạp chí High Times[9]. Năm 2008 cô xuất hiện trong mùa bốn series phim Entourage của HBO, Faris là khách mời vai chính trong ba tập phim.

Năm 2009, cô tham gia lồng tiếng vai Sam Sparks, trong bộ phim hoạt hình Cơn mưa thịt viên, ngoài ra cô cũng tham gia lồng tiếng trong bộ phim hoạt hình Alvin and the Chipmunks: The SqueakquelAlvin and the Chipmunks: Chipwrecked (2011). Năm 2011, cô đóng vai chính trong bộ phim hài tình cảm What's Your Number? cùng với nam diễn viên Chris Evans. Năm 2012 cô đóng vai chính cùng với nam diễn viên Sacha Baron Cohen trong phim The Dictator. Cô xuất hiện trong phim bộ phim hài Movie 43 trong phân khúc "The Proposition"[10] cùng với chồng của cô là Chris Pratt. Năm 2013, cô xuất hiện trong phim Give It a Year và cô tiếp tục lồng tiếng vai Sam Sparks trong bộ phim hoạt hình Cơn mưa thịt viên 2.

Cuộc sống riêng tư

 
Faris với người chồng Chris Pratt tại Liên hoan phim quốc tế Toronto năm 2011.

Trong khi quay phim Lovers Lane tại Luân Đôn, Faris đã gặp Ben Indra[11]. Họ bắt đầu hẹn hò và đã kết hôn vào tháng 6 năm 2004[12], nhưng sau đó họ ly dị vào tháng 4 năm 2007.[13]

Faris gặp người chồng thứ hai của cô, nam diễn viên Chris Pratt, khi cô tham gia bộ phim Take Me Home Tonight. Họ đã bắt đầu hẹn hò sau thời gian ngắn, sau đó đính hôn vào cuối năm 2008,[14] và kết hôn vào ngày 9 tháng 7 năm 2009, trong một buổi lễ nhỏ tại Bali, Indonesia[15][16]. Họ có với nhau một con trai, tên là Jack (sinh ngày 25 tháng 8 năm 2012).[17][18] Vào ngày 6 tháng 8 năm 2017, cặp đôi thông báo rằng họ ly dị,[19][20] và họ chấm dứt vào 1 tháng 12, 2017.[21] Vào ngày 16 tháng 10 năm 2018, nó đã thông báo rằng đã chính thức chấm dứt lần cuối cùng.[22]

Vào tháng 9 năm 2017 Faris báo cáo rằng bắt đầu hẹn hò với Michael Barrett, trong khi làm việc với bộ phim Tai nạn bất ngờ.[23] Vào tháng 2 năm 2020, cô đã xác nhận rằng họ đã đính hôn.[24] Vào năm 2021, cô đã xác nhận rằng kết hôn trong buổi lễ tại Washington State.[25]

Các phim tham gia

 
Faris tại San Diego Comic-Con International vào năm 2013
NămTiêu đềVaiGhi chú
1996EdenDithy
1999Lovers LaneJannelle Bay
2000Scary MovieCindy Campbell
2001Scary Movie 2
2002MayPolly
The Hot ChickApril
2003Winter BreakJustine
Lost in TranslationKelly
Scary Movie 3Cindy Campbell
2005Southern BellesBelle Scott
Waiting...Serena
Brokeback MountainLashawn Malone
Just FriendsSamantha James
2006Scary Movie 4Cindy Campbell
My Super Ex-GirlfriendHannah Lewis
Guilty HeartsJane Conelly
2007Smiley FaceJane F.
Mama's BoyNora Flanagan
2008The House BunnyShelley DarlingtonĐồng thời là nhà sản xuất
The SpleenectomyDanielle / Dr. FieldsPhim ngắn
2009Frequently Asked Questions About Time TravelCassie
Observe and ReportBrandi
Cơn mưa thịt viênSam SparksLồng tiếng
Alvin and the Chipmunks: The SqueakquelJeanette MillerLồng tiếng
2010Yogi BearRachel Johnson
2011Take Me Home TonightWendy Franklin
What's Your Number?Ally DarlingĐồng giám đốc sản xuất
Alvin and the Chipmunks: ChipwreckedJeanette MillerLồng tiếng
2012The DictatorZoey
2013Movie 43Julie
I Give It a YearChloe
Cơn mưa thịt viên 2Sam SparksLồng tiếng
201422 Jump StreetAnnaCameo
2015Alvin and the Chipmunks: The Road ChipJeanette MillerLồng tiếng
2016KeanuChính côCameo
2017The Emoji MovieJailbreak / Princess LindaLồng tiếng
2018Tai nạn bất ngờKate Sullivan
2022The EstateSavanna

Giải thưởng và Đề cử

Chú thích

  1. ^ “Anna Faris”. Truy cập 5 tháng 3 năm 2015.
  2. ^ “Anna Faris”. Truy cập 5 tháng 3 năm 2015.
  3. ^ “Anna Faris”. Truy cập 5 tháng 3 năm 2015.
  4. ^ a b https://www.duhoctrungquoc.vn/wiki/en/Anna_Faris#cite_note-NYer2011-7
  5. ^ “Anna Faris Biography (1976–)”. Filmreference.com. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2010.
  6. ^ a b https://www.duhoctrungquoc.vn/wiki/en/Anna_Faris#cite_note-people-4
  7. ^ https://www.duhoctrungquoc.vn/wiki/en/Anna_Faris#cite_note-6
  8. ^ https://www.duhoctrungquoc.vn/wiki/en/Anna_Faris#cite_note-krug-3
  9. ^ “Seth Rogen is Stoner of the Year”. Celebstoner.com. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014.
  10. ^ “Anna Faris”. Truy cập 5 tháng 3 năm 2015.
  11. ^ Gallagher, Caitlin. “Anna Faris Was Married To Ben Indra, But He Can't Compare To Chris Pratt”. Bustle. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2017.
  12. ^ Allin, Olivia. “Anna Faris and Chris Pratt talk about falling in love on the set of their new movie”. ABC7. Los Angeles, California. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 7 năm 2015.
  13. ^ Finn, Natalie (3 tháng 4 năm 2007). “Scary Movie's Faris Haunted by Divorce”. E! Online. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2012.
  14. ^ Garcia, Jennifer; Cedenheim, Pernilla (29 tháng 1 năm 2009). “Anna Faris Gets Engaged!”. People. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2015. 'They got engaged late last year,' says the rep.
  15. ^ Garcia, Jennifer (12 tháng 8 năm 2009). “Anna Faris Is Married!”. People. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2011.
  16. ^ Riggs, Erika (16 tháng 5 năm 2013). “Anna Faris, Chris Pratt's $3.3 Million Hollywood Hills Home (House of the Day)”. AOL. Finance. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2017.
  17. ^ Garcia, Jennifer (25 tháng 8 năm 2012). “Anna Faris Welcomes a Baby Boy”. People. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2012.
  18. ^ Lew, Janine (6 tháng 12 năm 2014). “Chris Pratt Shares His Son's Premature Birth Story at March of Dimes Celebration of Babies”. Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2014.
  19. ^ Bond, Nick (7 tháng 8 năm 2017). “Hollywood's cutest couple Chris Pratt and Anna Faris announce separation”. news.com.au. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2017.
  20. ^ Nordyke, Kimberly (6 tháng 8 năm 2017). “Chris Pratt and Anna Faris Announce Separation”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2017.
  21. ^ Miller, Mike (1 tháng 12 năm 2017). “Chris Pratt Files for Divorce from Anna Faris”. People. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2017.
  22. ^ Russian, Ale (16 tháng 10 năm 2018). “Chris Pratt and Anna Faris Finalize Divorce One Year After Separating: Reports”. People. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018.
  23. ^ Delbyck, Cole (15 tháng 11 năm 2017). “Anna Faris Is Living Her Best Life On A Boat In Italy With Rumored Boyfriend”. HuffPost. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2020.
  24. ^ Young, Julius (12 tháng 2 năm 2020). “Anna Faris confirms engagement to Michael Barrett, wants to officiate her own wedding”. Fox News. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2020.
  25. ^ Teti, Julia (22 tháng 7 năm 2021). “Anna Faris Secretly Got Married & This Might Be the Very Sweet Reason Why”. SheKnows. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2021.

Liên kết ngoài

Anna Faris trên IMDb

#Wikipedia® is a registered trademark of the Wikimedia Foundation, Inc. Wiki (Study in China) is an independent company and has no affiliation with Wikimedia Foundation.
This article uses material from the Wikipedia article Anna Faris, which is released under the Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 license ("CC BY-SA 3.0"); additional terms may apply. (view authors). Nội dung được phát hành theo CC BY-SA 3.0, ngoại trừ khi có ghi chú khác. Images, videos and audio are available under their respective licenses.

🔥 Top trends keywords Tiếng Việt Wiki:

Bảng xếp hạng bóng đá nam FIFATrang ChínhGiải vô địch bóng đá thế giới 2022Đài Tiếng nói Việt NamMarocGiải vô địch bóng đá thế giớiCosta RicaĐặc biệt:Tìm kiếmDân số thế giớiĐội tuyển bóng đá quốc gia MarocĐội tuyển bóng đá quốc gia Costa RicaĐội tuyển bóng đá quốc gia BỉQatarSigmaThương Tín (diễn viên)Danh sách trận chung kết Giải vô địch bóng đá thế giớiLionel MessiViệt NamGiải vô địch bóng đá thế giới 2018BỉGiải vô địch bóng đá thế giới 2026Cristiano RonaldoĐội tuyển bóng đá quốc gia ĐứcĐội tuyển bóng đá quốc gia Nhật BảnCroatiaĐội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban NhaKylian MbappéĐội tuyển bóng đá quốc gia CanadaKinh tế Hàn QuốcLuật việt vị (bóng đá)Đội tuyển bóng đá quốc gia CroatiaĐặc biệt:Thay đổi gần đâyKinh tế Nhật BảnĐài Truyền hình Việt NamNhật BảnGiải vô địch bóng đá thế giới 2014NeymarVõ Văn KiệtKinh tế Trung QuốcTunisiaRomelu LukakuGiải vô địch bóng đá châu Âu 2020Cậu út nhà tài phiệtKinh tế SingaporeCanadaArgentinaTrung QuốcDiego MaradonaĐội tuyển bóng đá quốc gia BrasilĐội tuyển bóng đá quốc gia ArgentinaGuillermo OchoaẢ Rập Xê ÚtErling HaalandĐội tuyển bóng đá quốc gia PhápQuần đảo Hoàng SaEden HazardĐội tuyển bóng đá quốc gia Bồ Đào NhaHoa KỳHà NộiYouTubeGiải vô địch bóng đá thế giới 2030Keylor NavasCác Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhấtHakim ZiyechTây Ban NhaOne Piece Film: RedRobert LewandowskiGiải vô địch bóng đá thế giới 2002Google DịchThibaut CourtoisBảng tuần hoànGiải vô địch bóng đá thế giới 2010Giải vô địch bóng đá thế giới 2006Hàn QuốcHồ Chí MinhOxytocinThành phố Hồ Chí MinhTriệu Quân SựVòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2022🡆 More